Ung thu

Ung thư là một trong những căn bệnh nghiêm trọng nhất có thế gây hại cho người. Ung thư được định nghĩa là sự phát triển mất kiểm soát trong cơ thể bởi các tế bào bất thường. Triệu chứng của ung thư phụ thuộc vào nơi diễn ra sự phát triển và loại tế bào gây ảnh hưởng. Với hơn 200 loại ung thư có thể nảy sinh trong cơ thể người, có rất nhiều phương pháp điều trị tương ứng. Những bệnh nhân quyết định điều trị ung thư ở nước ngoài thường phải cân nhắc nhiều hơn so với việc điều trị các bệnh khác. Cũng rất khó để lấy được bảo hiểm du lịch khi đi điều trị bệnh ung thư.
Một số phương pháp điều trị có thể ảnh hưởng tới cơ thể và khiến việc đi du lịch trở nên khó khăn hơn, như buồn nôn, tiêu chảy, và thậm chí nhạy cảm với ánh sáng mặt trời. Những vấn đề về dài hạn như suy yếu hệ miễn dịch hay sưng các chi cũng có thể gây trở ngại. Tình trạng mệt mỏi trong và sau khi điều trị có thể khiến những chuyến đi dài trở nên khó chịu và phiền hà.
Tất cả những yếu tố trên cần được cân nhắc trước khi lựa chọn địa điểm du lịch. Bạn cần tư vấn thường xuyên với bác sĩ và hỏi kỹ về các vấn đề đi lại liên quan đến loại ung thư mà bạn mắc phải.
Một số phương pháp điều trị bệnh ung thư phổ biến ở nước ngoài:

  • Ghép tủy xương
  • Liệu pháp phóng xạ gần
  • Điều trị trúng đích
  • Điều trị nội tiết
  • Phẫu thuật u não
  • Điều trị ung thư vú
  • Hóa trị
  • Liệu pháp gen
  • Xạ trị điều biến liều (IMRT)
  • Phẫu thuật nội soi tuyến tiền liệt
  • Điều trị ung thư phổi
  • Điều trị ung thư tuyến tiền liệt
  • Xạ trị
  • Điều trị xạ phẫu
  • Phẫu trị
  • Xạ trị cắt lớp

Mục tiêu của việc điều trị ung thư là loại bỏ hoàn toàn tế bào ung thư ra khỏi cơ thể bệnh nhân mà không gây ra thiệt hại đáng kể nào tới phần còn lại của cơ thể. Ung thư có thể xảy ra khi các tế bào ung thư trong cơ thể nhân lên không kiểm soát và tích tụ lại trong khối u.
Tuy nhiên, các tế bào từ các khối u có thể đi vào máu và lan rộng (di căn) tới những bộ phận khác của cơ thể. Trong nhiều trường hợp/ hình thức ung thư hiếm gặp, như bệnh bạch cầu (máu trắng), ung thư vẫn nằm trong máu và không tạo thành khối u. Điều trị loại ung thư tự do này phức tạp hơn nhiều.
Có rất nhiều cách để chữa trị ung thư, và nếu phát hiện sớm, ung thư không phải là căn bệnh đe dọa tính mạng. Nhờ các nghiên cứu nhanh về bệnh ung thư, hiện nay đã có nhiều phương pháp chữa bệnh ung thư có thể lựa chọn. Hầu hết các phương pháp điều trị đều dựa trên dấu hiệu. Một số phương pháp chữa trị bao gồm phẫu thuật ung thư, hóa trị, xạ trị, liệu pháp nhắm đích, miễn dịch trị liệu, liệu pháp quang động. Những phương pháp điều trị ung thư mới như liệu pháp tế bào gốc, liệu pháp nhắm đích phân tử đang được nghiên cứu. Các trung tâm điều trị ung thư tiên tiến đã xuất hiện tại nhiều nơi trên thế giới, trong đó có cả những quốc gia đang phát triển.
Quá trình phục hồi của bệnh nhân mắc bệnh ung thư nghiêm trọng có thể kéo dài rất lâu và gian khổ. Hóa trị và xạ trị sẽ khiến người bệnh cực kỳ ốm yếu trong thời gian dài. Những cuộc kiểm tra định kỳ hậu phẫu cũng rất quan trọng đối với những trường hợp ung thư tái bệnh.

Nói chung, ung thư được coi là căn bệnh có thể phòng ngừa do nhiều loại ung thư có thể phòng tránh được bằng cách kiểm soát các tác nhân gây ra chúng. Hãy cố gắng tránh xa thuốc lá, rượu bia, béo phì, ô nhiễm không khí và các bệnh lây qua đường tình dục. Hãy bắt đầu một cuộc sống lành mạnh.

 

1 – GHÉP TỦY (GHÉP TẾ BÀO GỐC TẠO MÁU)
Thủ thuật ghép tủy xương của người này sang người khác chỉ được thực hiện trong trường hợp người bệnh mắc phải căn bệnh đe dọa đến tính mạng. Những trường hợp này bao gồm các bệnh như máu trắng, bệnh Hodgkin, ung thư hạch bạch huyết, hay các bệnh bẩm sinh như bệnh hồng huyết cầu lưỡi liềm và bệnh Thalassemia (thiếu máu di truyền).  Do đó ghép tủy  thường được thực hienj trên bệnh nhân mắc các bệnh hiểm nghèo, bệnh suy biến về máu.
Các loại ghép tủy

  • Tự thân – sử dụng tế bào gốc của chính bệnh nhân
  • Đồng sinh – sử dụng tế bào gốc của người sinh đôi
  • Đồng loại – sử dụng tế bào gốc của người hiến cùng hoặc không cùng huyết thống nhưng có tủy xương phù hợp
  • Máu cuống rốn có chứa tế bào gốc và cũng có thể dùng để cấy ghép.

Những người mắc bệnh ung thư phải điều trị bằng hóa trị hoặc xạ trị đều cần ghép tủy do tủy xương sẽ bị phá hủy trong quá trình điều trị.

Thông tin liệu pháp
Bước đầu tiên của quá trình lâu dài này là tìm người hiến tủy phù hợp để tủy xương được ghép không sản sinh ra các tế bào miễn dịch tấn công người nhận, có nghĩa là cần tìm một người có kháng nguyên bạch cầu phù hợp. Cứ khoảng 3 bệnh nhân thì có 1 người có anh chị em có tủy xương phù hợp.
Tủy xương được lấy từ một xương lớn, thường là xương chậu, thông qua nhiều mũi kim được đưa vào cơ thể. Thủ thuật được thực hiện cùng với gây mê toàn thân. Phương pháp ghép tủy xương rất khác nhau phụ thuộc vào loại bệnh mà nó được chỉ định điều trị, nhưng luôn luôn bao gồm việc đưa tủy vào máu qua tĩnh mạch.
Thông thường, thủ thuật cấy ghép thường diễn ra sau một liệu trình hóa trị để tiêu diệt tế bào ung thư. Hóa trị cũng gây ức chế hệ miễn dịch nhằm giảm khả năng tủy xương không chấp nhận vật chủ.

Giai đoạn hồi phục
Bệnh nhân trải qua cấy ghép tủy phải mất hàng tháng để hồi phục và ít nhất 10% sẽ không phục hồi. Biến chứng xuất phát chủ yếu khi tủy xương tấn công cơ thể vật chủ, đồng nghĩa với việc liệu trình luôn phải bao gồm nhiều phương pháp điều trị khác nhau để ức chế hệ miễn dịch.
Giai đoạn quan trọng nhất là 3 tháng đầu, khi mối đe dọa lớn nhất là tình trạng tế bào ghép chống lại cơ thể người nhận (GVHD). Giai đoạn phục hồi thường mất đến 6 tháng, trong thời gian đó bệnh nhân rất yếu do hệ miễn dịch bị ức chế, đồng nghĩa với việc nhiễm trùng thứ cấp có thể gây ra biến chứng làm trì hoãn sự hồi phục sức khỏe.


2 – LIỆU PHÁP PHÓNG XẠ GẦN

LPPXG là một loại bức xạ được dùng trong điều trị khối u. LPPXG được sử dụng trong điều trị ung thư tuyến tiền liệt, bao gồm việc cấy hạt phóng xạ vào tuyến tiền liệt. Hạt phóng xạ được sử dụng thường ở dạng viên bọc titan có chứa đồng vị phóng xạ được gọi là iodine-125.
Thông tin liệu pháp
Tùy thuộc vào kích thước khối u, vị trí cấy ghép và số mô cấy cần thiết, người bệnh có thể sẽ phải gây mê toàn thân. Thông thường, bệnh nhân LPPXG được điều trị nội trú, chủ yếu để ngăn các tác động có hại của bức xạ ảnh hưởng tới người khác khi nó vẫn còn tồn tại trong cơ thể bệnh nhân.
Các cơ sở tư nhân có thể sử dụng phác đồ LPPXG riêng, nhưng thông thường, phác đồ điều trị bao gồm việc đảm bảo bệnh nhân điều trị LPPXG có phòng riêng, hạn chế lượng thời gian nhân viên bệnh viện ở trong phòng bệnh nhân mà không được bảo hộ, và chắn bức xạ giữa bệnh nhân và bất cứ ai ra vào phòng.
Giai đoạn hồi phục
Khi mô cấy LPPXG ở liều thấp, nó sẽ tồn tại ở vị trí cấy trong vài ngày. Các mô cấy liều cao hơn thường bị loại bỏ sau vài phút điều trị. Các mô cấy tạm thời tồn tại cho tới khi thực hiện đủ liều lượng bức xạ.
Trong một số trường hợp, mô cấy nằm lại trong cơ thể người bệnh vĩnh viễn. Nếu mô cấy là vĩnh viễn, bệnh nhân cần nằm lại bệnh viện thêm vài ngày, thời gian cụ thể phụ thuộc vào lượng bức xạ và vị trí mô cấy. Khi mức độ bức xạ trở nên yếu đi, bệnh nhân sẽ được xuất viện, và được hướng dẫn các biện pháp an toàn cần tuân thủ tại nhà, và nếu cần thiết thì phải để bác sỹ thực hiện.

 

3 – HÓA TRỊ
Nhiều năm nghiên cứu và thử nghiệm đã chỉ ra rằng hóa trị là một phương pháp điều trị hiệu quả cho nhiều loại ung thư. Hóa trị sử dụng một số loại thuốc điều trị ung thư, và đóng vai trò quan trọng trong hơn 50 năm qua. Nó có thể dùng làm phương pháp điều trị dy nhất cho bệnh nhân hoặc có thể điều trị kèm với các liệu pháp khác như phẫu thuật hay xạ trị.
Các tế bào phân chia nhanh sẽ bị phá hủy bằng hóa trị. Những tế bào này bao gồm các tế bào ung thư và các tế bào khỏe mạnh có xu hướng phân tán nhanh, như tế bào tủy xương, tế bào trong đường tiêu hóa, tế bào trong hệ sinh sản và tế bào trong nang lông. Các tế bào khỏe mạnh thường hồi phục khi loạt phương pháp hóa trị liệu hoàn tất. Ví dụ, tóc có thể bắ đầu mọc lại.
Thông tin liệu pháp
Thuốc dùng trong hóa trị có thể ở nhiều dạng. Bác sỹ ung thư sẽ quyết định loại nào, hay phức hợp nào sẽ được dùng, tùy thuộc vào loại ung thư. Các hình thức khác nhau của hóa trị liệu bao gồm tiêm tĩnh mạch, uống, bôi hoặc tiêm trực tiếp. Tiêm tĩnh mạch cho phép thuốc lưu thông nhanh trong cơ thể, còn bôi và tiêm được sử dụng để điều trị từng vị trí cụ thể.
Giai đoạn hồi phục
Thường thực hiện hoá trị liệu theo từng chu kỳ. Mỗi chu kỳ có thể kéo dài từ một đến vài ngày, cũng có khi kéo dài đến vài tuần…tuỳ thuộc vào loại bệnh ung thư, công thức hoá trị và sức khoẻ của bệnh nhân. Thường thì hoá trị được thực hiện với nhiều chu kỳ, giữa các chu kỳ sẽ có khoảng nghỉ, mục đích là để cơ thể người bệnh phục hồi, số lượng các tế bào máu trở về bình thường. Khoảng nghỉ này có thể từ một đến vài tuần. Người bệnh nên tuân thủ theo đúng hẹn của bác sĩ. Tuỳ theo bệnh và mục đích điều trị, bác sĩ sẽ quyết định số chu kỳ cần thực hiện. Bệnh nhân không được bỏ dở điều trị hoặc đến không đúng hẹn vì sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả điều trị.
Trước khi bắt đầu hóa trị liệu, ai cũng băn khoăn về các tác dụng phụ, Những tác dụng phụ phổ biến nhất của điều trị hóa trị bao gồm:

  • Buồn nôn và nôn
  • Rụng tóc
  • Mệt mỏi
  • Hay bị bầm tím và chảy máu
  • Thiếu máu
  • Nhiễm trùng

Bác sĩ sẽ dựa vào việc thăm khám lâm sàng, kết quả một số xét nghiệm máu, chẩn đoán hình ảnh như chụp X-quang, chụp cắt lớp vi tính…để đánh giá mức độ đáp ứng của người bệnh. Không bao giờ dựa vào biểu hiện của  tác dụng phụ để suy đoán hiệu quả của thuốc. Nhiều người có quan niệm sai rằng càng có nhiều tác dụng phụ thì chứng tỏ thuốc càng có hiệu quả, người bệnh nào không có tác dụng phụ là thuốc không có tác dụng.

 

4 –  XẠ TRỊ
Điều trị bằng tia phóng xạ (còn gọi là xạ trị, chiếu tia xạ) là một phương pháp chữa bệnh bằng việc sử dụng các tia bức xạ năng lượng cao hoặc các hạt đồng vị phóng xạ để kiểm soát sự phát triển ác tính. Chiếu xạ cơ thể được thực hiện trước khi ghép tủy xương, cần thiết trong trường hợp mắc bệnh bạch cầu.
Tia xạ liều cao có tác dụng tiêu diệt các tế bào ác tính hoặc kìm hãm sự phát triển và lan tràn của chúng. Khi chiếu tia xạ, các tế bào bình thường cũng bị tác động nhưng không giống như các tế bào ung thư, phần lớn các tế bào bình thường có thể phục hồi sau chiếu tia xạ. Tuy nhiên, để bảo vệ các tế bào lành, các bác sĩ luôn cân nhắc cẩn thận liều tia xạ chiếu vào vùng cần điều trị, che chắn cho vùng mô lành càng nhiều càng tốt.
Điều trị tia xạ có thể được lựa chọn cho nhiều loại ung thư ở các phần khác nhau của cơ thể. Ước tính chung, tới một nửa số bệnh nhân ung thư cần được điều trị tia xạ. Điều trị tia xạ giống như điều trị phẫu thuật, là các phương pháp điều trị tại vùng có hiệu quả tốt khi các tế bào ác tính còn khu trú ở một vùng nhất định. Điều trị tia xạ có thể phối hợp với các phương pháp khác như phẫu thuật, dùng hoá chất, nội tiết, yếu tố sinh học nhằm tăng hiệu quả điều trị.
Thông tin liệu pháp
Xạ trị thường được áp dụng trực tiếp cho khối u. Dựa vào vị trí của khối u, phạm vi bức xạ có thể bao gồm xung quanh hạch bạch huyết, nếu có liên quan hoặc nếu có nguy cơ lây lan ác tính. Hầu hết xạ trị liệu bao gồm cả phạm vi mô bình thường xung quanh khối u. Nguyên nhân là vị trí khối u có thể thay đổi do các tác nhân bên trong và bên ngoài, và việc điều trị toàn bộ khối u ác tính là rất quan trọng.
Để tránh gây tổn hại cho các mô thường như da hay nội tạng, nơi bức xạ cần đi qua để chạm tới khối u, các tia cần được nhắm từ nhiều góc. Điều này giúp lượng bức xạ chiếu vào khôi u lớn hơn thay vì chiếu vào các mô khỏe mạnh xung quanh.
Điều trị tia xạ có thể thực hiện bằng hai cách: Tia xạ từ ngoài và xạ trong.

  • Phần lớn bệnh nhân điều trị tia xạ ung thư bằng tia xạ từ ngoài, phát ra từ các máy xạ trị đặc biệt sử dụng tia năng lượng cao (tia X, tia Gamma). Các máy xạ trị bao gồm máy gia tốc, máy Cobalt.
  • Tia xạ trong (tia xạ áp sát) tức là các nguồn phát xạ nằm trong cơ thể, được đưa vào áp sát hoặc cắm trực tiếp vào khối u. Các nguồn phóng xạ gồm Cesium 137, Iridium 192, Iodine 131.

Giai đoạn hồi phục
Mặc dù là một liệu pháp quan trọng, nhưng xạ trị không cần nhiều thời gian hồi phục như hóa trị. Tuy nhiên, chiếu xạ toàn cơ thể, tiến hành trước khi ghép tủy xương, thường được thực hiện với liều lượng có thể gây chết người nếu không thay thế các tế bào bị nhiễm, điều này dẫn đến một giai đoạn ức chế phản ứng hệ miễn dịch và phải mất vài tháng mới hồi phục.
Trong trường hợp chiếu tia xạ trong, điều trị yêu cầu bệnh nhân phải nhập viện vài ngày do đòi hỏi mức độ bức xạ cao. Bức xạ ở mức cao nhất trong thời gian nằm viện và việc thăm bệnh có thể bị hạn chế. Các mô cấy sẽ được đưa vào cơ thể tạm thời hoặc vĩnh viễn. Bức xạ từ các mô cấy vĩnh viễn  sẽ đạt mức an toàn trước khi bệnh nhân xuất viện. Khi mô cấy được loại bỏ, cơ thể bệnh nhân sẽ không còn phóng xạ.
Trong trường hợp chiếu tia xạ ngoài, giai đoạn hồi phục thường nhanh chóng mặc dù lượng bức xạ cao có thể dẫn đến tác dụng phụ mà phải mất hàng tuần, hàng tháng mới vượt qua được. Chiếu tia xạ ngoài thường được thực hiện trong điều kiện ngoại trú, tại bệnh viện hoặc phòng khám, và số lần là 5 ngày/ tuần trong vài tuần. Còn với chiếu tia xạ trong, bệnh nhân được coi là phóng xạ trong một khoảng thời gian ngắn sau khi điều trị và phải tránh tiếp xúc với người khác cho tới khi chất phóng xạ đã trở lại mức độ bình thường.

 

5 – LIỆU PHÁP GENE
Là một kỹ thuật tương đối mới vẫn đang được nghiên cứu và hoàn thiện, liệu pháp gen thường được dùng để điều trị các bệnh di truyền trong quá khứ được chứng minh là khó chữa trị.
Một số bệnh ung thư, bao gồm u ác tính, có thể được điều trị sử dụng phương pháp này. Liệu pháp gen đã được áp dụng, hầu hết dưới hình thức thử nghiệm, nhằm chống lại các bệnh di truyền và được hy vọng sẽ chống bệnh xơ nang, bệnh ưa chảy máu và bệnh hồng huyết cầu lưỡi liềm vào một ngày không xa.
Thông tin liệu pháp
Liệu pháp gene được thiết kế nhằm đưa nguyên liệu di truyền vào trong tế bào để bù đắp các gene cũ gây bệnh hay tạo ra protein hữu ích. Nếu một protein cần thiết bị đột biến gene làm protein sai hỏng chức năng, thì liệu pháp gene có thể bù đắp chức năng của protein bằng cách đưa vào tế bào bản sao của gene khỏe mạnh.
Gene được chèn trực tiếp vào tế bào thường không có chức năng. Thay vào đó, kĩ thuật di truyền giúp tạo ra vật thể mang gene mới gọi là vector để phân phối gene mới có chức năng. Chắc chắn rằng virus thường được sử dụng làm thể mang gene mới vì chúng có khả năng tiêm gene mới vào tế bào. Virus được thay đổi chút ít để chúng không thể gây ra bệnh tật khi sử dụng ở người. Một số loại virus, như retrovirus, hợp nhất(integrate) nguyên liệu di truyền của chúng (bao gồm cả gene mới) vào trong nhiễm sắc thể ở tế bào của người. Những virus khác, như adenovirus, đưa DNA của chúng vào trong nhân tế bào, nhưng DNA không được hợp nhất vào trong nhiễm sắc thể.
Vector có thể được tiêm hoặc truyền trực tiếp từ tĩnh mạch vào trong một mô chuyên biệt của cơ thể, tại mô, vector sẽ được hấp thụ vào từng tế bào riêng lẻ. Ngoài ra, một mẫu những tế bào bệnh bị cắt bỏ và tháo gỡ vector khỏi tế bào bệnh. Những tế bào chứa đựng các vector sau đó được đưa trở lại vào bệnh nhân. Nếu chữa trị thành công, gene mới do vector phân phối sẽ tạo ra protein có chức năng.
Có 2 loại liệu pháp gen phổ biến. Ex vivo là quá trình các tế bào được phục hồi bên ngoài cơ thể, sau đó được đưa vào cơ thể, còn vivo là đưa thành phần gen mới vào trong cơ thể.
Giai đoạn phục hồi
Thời gian hồi phục khác nhau tùy thuộc vào tình trạng bệnh. Một số bệnh nhân cần phải điều trị lặp lại liệu pháp gen để sống với bệnh, như trường hợp bị suy giảm hệ miễn dịch. Một sô trường hợp trong đó tế bào gốc được sử dụng đòi hỏi phải điều trị liệu pháp gen trong 4 năm.

 

6 – ĐIỀU TRỊ NỘI TIẾT
Điều trị nội tiết trong ung thư là phương pháp kìm hãm sự phát triển của tế bào ung thư bằng chất nội tiết (hoóc môn). Do tác dụng làm lui bệnh tốt, điều trị nội tiết được sử dụng phối hợp với các phương pháp khác như điều trị bằng phẫu thuật, điều trị bằng tia phóng xạ, điều trị bằng các thuốc hóa chất và điều trị bằng các thuốc điều trị đích.
Điều trị nội tiết có một số ưu điểm như: đơn giản, dễ thực hiện, giá thành không cao, tác dụng phụ thấp hoặc không đáng kể so với các phương pháp khác.
Nhiều khả năng điều trị: có tới 1/6 số trường hợp ung thư có thể điều trị bằng nội tiết. Với các tiến bộ về sinh học phân tử, các hiểu biết của chúng ta về cơ chế tác dụng của các hoóc môn lên khối u ngày càng được mở rộng, có thể tìm được các biện pháp can thiệp ngày càng có hiệu quả hơn.
Thông tin liệu pháp
Cơ chế tác dụng điều trị của chất nội tiết đối với các ung thư vẫn chưa được giải thích đầy đủ. Nói chung, điều trị nội tiết hiện nay được tiến hành theo các cách sau :

  • Loại bỏ các hóc môn trực tiếp kích thích khối u phát triển.
  • Ngăn chặn sự sản xuất hoặc tiết ra các yếu tố dinh dưỡng có tác dụng kích thích trực tiếp khối u phát triển. Các yếu tố này được tạo ra bởi chính tế bào ung thư, các tế bào ở ngay xung quanh, các tuyến nội tiết ở xa.

Điều trị nội tiết có thể theo cách dùng thuốc nội tiết, hoặc thuốc ức chế cơ thể sản sinh nội tiết hoặc cắt bỏ tuyến nội tiết.

  • Dùng thuốc nội tiết: Thuốc nội tiết được lựa chọn đối với mỗi loại bệnh ung thư không giống nhau. Chẳng hạn:
    • Ung thư máu, ung thư hạch bạch huyết: dùng thuốc nội tiết corticoid
    • Ung thư vú: dùng nội tiết tố nam Testosteron
    • Ung thư tuyến tiền liệt: dùng nội tiết tố nữ Oestradiol, Progesteron
  • Dùng thuốc ức chế nội tiết: cạnh tranh với thụ thể nội tiết của người bệnh tại tế bào ung thư: Tamoxiphen, Arimidex, Femara,… dùng cho  ung thư vú
  • Cắt bỏ tuyến nội tiết: Cắt buồng trứng trong ung thư vú, cắt tinh hoàn trong ung thư tuyến tiền liệt.

Giai đoạn hồi phục
Sau khi được điều trị nội tiết, khối u có thể thoái lui hoặc bệnh nhân thấy giảm triệu chứng trong một thời gian. Sự phát triển trở lại của khối u là không tránh khỏi. Mặc dù sau đó khối u vẫn có thể đáp ứng với các biện pháp điều trị nội tiết khác nhưng cuối cùng khối u trở nên trơ với mọi liệu pháp nội tiết. Vì vậy các bác sĩ thường phải kết hợp phương pháp này với các phương pháp điều trị khác.

 

7 – PHẪU TRỊ
Phẫu thuật là phương pháp sử dụng dao mổ, kéo…để loại bỏ khối u.
Phẫu thuật là phương pháp điều trị bệnh ung thư có lịch sử lâu đời nhất và là phương pháp điều trị khỏi đối với một số bệnh ung thư. Tuy nhiên hiện nay vẫn có những quan niệm như: chớ đụng dao kéo khi bị ung thư là hoàn toàn sai lầm.
Xu hướng hiện nay là phẫu thuật bảo tồn tối đa, phối hợp phẫu thuật với các phương pháp điều trị khác (xạ trị, hoá trị liệu, điều trị miễn dịch…) nhằm cải thiện chất lượng sống cho người bệnh.
Ngày nay những tiến bộ về khoa học kỹ thuật góp phần làm thay đổi phẫu thuật ung thư như ứng dụng nội soi can thiệp, vi phẫu, ghép tạng…
Thông tin liệu pháp
Có hai loại phẫu thuật điều trị chính là phẫu thuật điều trị triệt căn và điều trị tạm thời, tùy thuộc vào giai đoạn bệnh. Tuy nhiên, nhiều ung thư khi phát hiện ra bệnh đã ở giai đoạn muộn (giai đoạn III và IV) do đó hạn chế nhiều đến kết quả điều trị. Vì vậy, trước khi mổ, bác sỹ đã phải chẩn đoán chính xác về giai đoạn bệnh cũng như phải hiểu rõ quá trình tiến triển tự nhiên của loại ung thư mà mình đang điều trị, từ đó mới có thể ra quyết định đúng.
Phẫu thuật điều trị triệt căn trong ung thư: Bác sỹ phẫu thuật thực hiện cắt rộng để lấy bỏ toàn bộ khối ung thư và một phần tổ chức lành bao quanh nó. Nếu có hạch vùng khả nghi di căn, vét toàn bộ hạch vùng với mục đích không còn tế bào ung thư. Phẫu thuật triệt để với khả năng chữa khỏi nhiều loại ung thư khi bệnh trong giai đoạn sớm (khoảng 1/3 số bệnh ung thư) nhất là đối với các bệnh ung thư vú, cổ tử cung, khoang miệng, tuyến giáp, da, ống tiêu hoá….
Phẫu thuật đơn độc (với những trường hợp bệnh ở giai đoạn sớm – tổn thương khu trú chưa di căn xa) hoặc nằm trong kế hoạch điều trị phối hợp nhiều phương pháp. Chiến lược, chiến thuật phối hợp như thế nào hoàn toàn phụ thuộc vào từng loại bệnh và từng giai đoạn bệnh một cách cụ thể, chính xác trên mỗi trường hợp.
Phẫu thuật điều trị tạm thời: Được các bác sỹ áp dụng cho những trường hợp bệnh ở giai đoạn muộn, tổn thương đã lan rộng. Căn cứ vào các biến chứng do ung thư gây ra mà phẫu thuật tạm thời cũng có các mục đích khác nhau:

  • Phẫu thuật lấy bỏ u tối đa: Khi khối u lớn, dính việc cắt bỏ khối u triệt để khó thực hiện, có thể thực hiện việc cắt bỏ u tối đa. Việc làm này sẽ làm giảm đáng kể khối lượng tổ chức ung thư, tạo điều kiện thuận lợi để áp dụng các phương pháp điều trị bổ sung khác (xạ trị, hoá trị liệu…).
  • Phẫu thuật phục hồi sự lưu thông: Làm hậu môn nhân tạo, nối vị tràng, nối tắt hồi tràng – đại tràng, mở thông dạ dày, mở khí quản, mở thông bàng quang….
  • Phẫu thuật cầm máu: Thắt động mạch chậu trong ung thư cổ tử cung, thắt mạch cảnh trong ung thư vòm.
  • Phẫu thuật sạch sẽ: chỉ định cho nhiều trường hợp như ung thư vú giai đoạn muộn, có vỡ loét…
  • Phẫu thuật giảm đau: Phẫu thuật cắt cụt chi, tháo khớp trong ung thư xương, cắt thần kinh chi phối vùng tổn thương…

Phẫu thuật với ung thư tái phát và di căn

  • Tái phát ung thư: Tái phát là một đặc tính của bệnh ung thư. Tuy nhiên trong một số trường hợp ung thư tái phát sau điều trị như ung thư đại tràng, giáp trạng…tiến hành phẫu thuật lại vẫn có thể cho kết quả tốt. Chỉ định mổ lại tuỳ thuộc vào từng loại bệnh, cũng như khả năng lấy bỏ hết những tổn thương tái phát đó.
  • Di căn ung thư: Ung thư đã có di căn là giai đoạn cuối cùng của bệnh, nhưng nhiều trường hợp vẫn có thể điều trị phẫu thuật cho kết quả. Chẳng hạn như ung thư đại tràng có di căn gan một ổ, nếu phẫu thuật cắt đại tràng và cắt nhân di căn vẫn cho kết quả khả quan. Nói chung, các bác sỹ thường chỉ định phẫu thuật cho các di căn hạch vùng. Với các trường hợp di căn khác, khi chỉ định phẫu thuật các bác sỹ sẽ phải được cân nhắc dựa trên những tiêu chí sau:
    • Thời gian xuất hiện di căn muộn (tính theo năm) chưa lâu
    • U di căn khu trú, đơn độc ở một cơ quan.
    • Sức khoẻ bệnh nhân cho phép thực hiện phẫu thuật, tai biến do phẫu thuật phải là tối thiểu

Phẫu thuật trong điều trị phối hợp (đa mô thức)
Một trong những nguyên tắc điều trị bệnh ung thư là phối hợp nhiều phương pháp. Phẫu thuật được kết hợp với điều trị hoá chất hoặc xạ trị nhằm cắt giảm khối u tạo, điều kiện tốt nhất cho điều trị hoá chất hoặc xạ trị. Ví dụ như:

  • Phẫu thuật công phá u trong điều trị ung thư buồng trứng.
  • Phẫu thuật cắt bỏ những tổ chức ung thư hoại tử, thiếu ôxy ở trung tâm ở các khối u có kích thước lớn nhằm làm tăng thêm nhạy cảm với xạ trị do những tổ chức thiếu ôxy rất kháng tia.
  • Điều trị phẫu thuật còn có vai trò là phương pháp bổ trợ cho xạ trị, hoá trị liệu như trong trường hợp ung thư vòm, sau xạ trị triệt căn mà vẫn còn tồn tại khối hạch cổ, cần thiết phải điều trị bổ sung bằng phẫu thuật lấy hạch. Trường hợp u lymphô ác tính biểu hiện ở ống tiêu hoá, phương pháp điều trị là phối hợp giữa phẫu thuật với hoá chất.
  • Trong một số trường hợp như cắt buồng trứng, cắt tinh hoàn trong điều trị ung thư vú, tuyến tiền liệt, việc phẫu thuật là nhằm mục đích điều trị nội tiết.

 

8 – ĐIỀU TRỊ TRÚNG ĐÍCH
Điều trị trúng đích là tiến bộ mới trong lĩnh vực chuyên sâu của điều trị nội khoa đối với ung thư, nhờ ứng dụng các thành tựu trong nghiên cứu về sinh học phân tử. Điều trị trúng đích có thể dùng đơn độc hoặc phối hợp với các phương pháp kinh điển như phẫu thuật, chiếu tia xạ , điều trị bằng hóa chất nhằm kéo dài thời gian sống và giảm bớt tác dụng phụ nghiêm trọng cho người bệnh. Hiện nay, đang nghiên cứu và áp dụng điều trị trúng đích trong nhiều loại ung thư như: vú, phổi, đại trực tràng, gan, tụy, vùng đầu cổ…
Thông tin liệu pháp
Điều trị trúng đích (còn gọi là trúng đích phân tử) là dùng thuốc cản trở các phân tử đặc hiệu, nhằm kìm hãm sự tăng trưởng và phát triển của ung thư. Điều trị trúng đích trong ung thư nói một cách đơn giản là phương pháp nhằm vào tế bào ung thư mà diệt. Với quan niệm này thì bất kỳ loại thuốc nào mà chỉ tìm đến tế bào ung thư để diệt nhờ nhận ra được những nét khác thường của các tế bào này hoặc đánh vào những chỗ “sơ hở” của tế bào ung thư (mà tế bào bình thường không có) trong khi không gây ra hoặc gây rất ít tác động đến tế bào lành, đến chức năng bình thường của các cơ quan, bộ phận đều được coi là điều trị đích.
Có nhiều loại thuốc tác động vào đích, vào các quá trình khác nhau để kìm hãm sự phát triển của khối u. Với các thuốc được phát hiện và nghiên cứu cho đến nay, chúng ta có thể phân nhóm theo cơ chế tác dụng chính như sau:

  • Nhóm ức chế các gen kích thích tế bào phát triển
  • Nhóm ức chế tăng sinh mạch máu
  • Nhóm tác động theo cơ chế miễn dịch
  • Các thuốc điều trị đích khác

Trong mỗi nhóm lại có những thuốc thuộc loại các phân tử nhỏ, có những thuốc thuộc loại kháng thể đơn dòng. Có những thuốc vừa có tác dụng theo các cơ chế như loại 1 vừa có tác dụng như loại 2 hoặc vừa có tác dụng như loại 1 vừa có tác dụng như loại 3.
Một số nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng không phải khi nào điều trị “trúng đích” cũng có tác dụng tốt, không làm tăng tỷ lệ lui bệnh, không kéo dài thời gian sống thêm của người bệnh, thậm chí còn làm xấu thêm đi. Như vậy là mũi tên bắn “không trúng đích”. Từ đó khái niệm “điều trị trúng đích theo cá thể” ra đời: Chỉ lựa chọn những người bệnh có đáp ứng với thuốc để tối ưu hóa tỷ lệ thành công. Ví dụ: Chỉ chọn dùng thuốc Trastuzumab cho những người bệnh UT vú có thụ thể Her2/NEU dương tính mạnh. Chỉ những UT đại trực tràng có gien KRAS thể tự nhiên (không bị đột biến) mới đáp ứng với thuốc Cetuximab. Chỉ những UT phổi có thụ thể EGFR không đột biến mới có tác dụng khi dùng Gefitinib…Có như vậy việc điều trị mới đạt được cả mục đích hiệu quả chuyên môn và hiệu quả kinh tế.

 

9 – TẾ BÀO GỐC
Nghiên cứu tế bào gốc (TBG) là lĩnh vực khoa học rất đặc biệt và chuyên sâu, liên quan đến các ngành y và sinh học nên đòi hỏi phải đầu tư nhiều tiền bạc, sức lực nhưng hứa hẹn nhiều thành công trong việc chữa trị các bệnh nan y. Lĩnh vực này đã biết từ lâu nhưng chỉ mới phát triển mạnh gần đây.
Tế bào gốc là những tế bào còn non, tiềm năng phát triển rất lớn, có khả năng tự thay mới mình và biệt hóa thành các tế bào chuyên biệt khác để tạo nên các mô (của cơ thể) do chết tự nhiên vì già cỗi hoặc do bị tổn thương vì các nguyên nhân khác nhau.
Tế bào gốc được lưu giữ tại các vị trí đặc biệt gọi là “ổ” TBG nằm rải rác trong các mô và cơ quan của cơ thể. Từ đây, các tế bào gốc cứ đều đặn (hoặc tăng tốc khi bị nhiễm trùng hoặc chấn thương) tăng sinh và biệt hóa, cung cấp nguồn tế bào mới để tạo mô và giữ cho cơ thể luôn ở trạng thái cân bằng.
Ở Việt Nam, nguồn TBG thường sử dụng cho việc ghép được lấy từ: Tủy xương; Máu ngoại vi và từ Máu dây rốn. Trong đó, máu ngoại vi là nguồn TBG được ưa chuộng nhất, sử dụng trong ghép tự thân và đồng loại (có nguồn cung cấp khá lớn từ những người khỏe mạnh hiến máu tình nguyện).

 

 10 – XẠ TRỊ ĐIỀU BIẾN LIỀU (IMRT)
Đây là kỹ thuật xạ trị tiên tiến hiện đang được sử dụng rộng rãi tại các nước phát triển châu Âu hay châu Mỹ, nó cho phép người thầy thuốc hướng các chùm tia bức xạ một cách chính xác và nhiều nhất vào khối u, trong khi đó các cơ quan cần bảo vệ và các cơ quan lành chung quanh lại nhận liều bức xạ ít nhất và được bảo vệ tối ưu nhất. Việc sử dụng tia xạ để điều trị đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử y học. Cùng với lợi ích điều trị thì các tác dụng ngoại ý của tia xạ lên các mô lành cũng là một vấn đề nan giải cho các nhà lâm sàng.
Những bệnh nhân được xạ trị có thể được kéo dài thêm nhưng chất lượng cuộc sống thì có thể bị giảm đi do các tác dụng không mong muốn của tia xạ. Kỹ thuật IMRT ra đời là góp phần giải quyết được khó khăn cho vấn đề này.
Đối với ung thư thực quản hay các khối u ác tính ở vùng trung thất… thường có những khó khăn trong việc xạ trị vì nhiều cơ quan dễ bị ảnh hưởng bởi bức xạ khi tiến hành xạ trị. Nhiều biến chứng có thể xảy ra vì rất khó tránh các cơ quan lân cận nếu chúng ta sử dụng các kỹ huật xạ trị kinh điển như máy xạ trị Co-60, máy xạ trị gia tốc tuyến tính (LINAC) với kỹ thuật 3D. Do vậy kỹ thuật xạ trị điều biến liều (IMRT) là một lựa chọn tối ưu cho nhiều benẹh nhân ung thư thực quản.
Kỹ thuật này được thực hiện qua việc đồng thời chia các trường chiếu (beams) ở nhiều góc độ khác nhau thành nhiều phân đoạn hình chữ nhật với các trọng số khác nhau nhằm tối ưu hoá liều cao nhất theo hình dạng khối u và liều cho phép giới hạn ở tổ chức lành. Việc ứng dụng kỹ thuật IMRT đã cho phép tập trung liều bức xạ cao nhất vào tổn thương (khối u, hạch) và thấp nhất vào tổ chức lành xung quanh (cơ quan cần bảo vệ). Mục đích cuối cùng là đạt hiệu quả điều trị cao nhất cho người bệnh.

 

ĐIỀU TRỊ UNG THƯ

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>